Trả lời ngắn gọn: Doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng được phép cho doanh nghiệp khác vay tiền, với điều kiện việc cho vay không diễn ra thường xuyên và không mang tính chất kinh doanh. Lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Lưu ý: căn cứ pháp lý hiện hành là Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (số 32/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024), thay thế Luật Các tổ chức tín dụng 2010.
1. Doanh nghiệp có được quyền cho doanh nghiệp khác vay tiền hay không?
Theo khoản 17 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (số 32/2024/QH15), hoạt động ngân hàng được định nghĩa là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Dịch vụ liên quan
Tư vấn M&A, chuyển nhượng vốn và chuyển nhượng dự án
Nếu nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp đang chuẩn bị giao dịch vốn, M&A, chuyển nhượng dự án hoặc tái cấu trúc, ANT Legal có thể hỗ trợ kiểm tra pháp lý và đề xuất cấu trúc giao dịch phù hợp.
Đồng thời, khoản 2 Điều 15 Luật này quy định hành vi bị nghiêm cấm: “Tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán.”
Như vậy, yếu tố quyết định là việc cho vay có mang tính kinh doanh và diễn ra thường xuyên hay không:
- Nếu doanh nghiệp coi việc cho vay là một hoạt động kinh doanh để tạo lợi nhuận và thực hiện liên tục, thường xuyên thì đó là “hoạt động ngân hàng” và bị nghiêm cấm khi không phải tổ chức tín dụng;
- Nếu doanh nghiệp chỉ sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi cho doanh nghiệp khác vay trong từng trường hợp cụ thể, không diễn ra thường xuyên, không nhằm mục đích kinh doanh từ hoạt động cho vay thì không bị coi là hoạt động ngân hàng và không vi phạm Luật Các tổ chức tín dụng 2024.
Bộ luật Dân sự 2015 có hẳn một chế định về hợp đồng vay tài sản và không cấm doanh nghiệp cho vay. Pháp luật thuế cũng gián tiếp thừa nhận: điểm b khoản 9 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 (số 48/2024/QH15) và điểm b khoản 4 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định hoạt động cho vay của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng.
Kết luận: Việc cho vay giữa hai doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng là hợp pháp nếu không thường xuyên và không mang tính chất kinh doanh.
2. Quy định về lãi suất khi doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác vay
Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…”
“2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Như vậy, lãi suất tối đa các bên được thỏa thuận trong hợp đồng vay là 20%/năm; phần lãi suất vượt quá mức này không có hiệu lực. Trường hợp có thỏa thuận trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất mà phát sinh tranh chấp thì áp dụng mức 50% của mức giới hạn nêu trên.
3. Hình thức thanh toán trong giao dịch vay, cho vay và trả nợ vay giữa các doanh nghiệp
Căn cứ Điều 4 Thông tư 09/2015/TT-BTC, các doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng khi thực hiện giao dịch vay, cho vay và trả nợ vay lẫn nhau không được thanh toán bằng tiền mặt mà phải sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, bao gồm:
- Thanh toán bằng séc;
- Thanh toán bằng ủy nhiệm chi – chuyển tiền;
- Các hình thức thanh toán không sử dụng tiền mặt phù hợp khác theo quy định hiện hành.
Trường hợp vay, cho vay bằng tài sản (không phải bằng tiền), đối trừ công nợ hoặc chuyển giao nghĩa vụ nợ thì thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Lưu ý khi áp dụng quy định pháp luật hiện hành
Nội dung bài viết thuộc nhóm Kiến thức Doanh nghiệp & M&A và được trình bày theo hướng tham khảo, giúp người đọc hiểu vấn đề pháp lý ở mức tổng quan trước khi chuẩn bị hồ sơ hoặc thực hiện giao dịch.
Quy định pháp luật có thể thay đổi theo thời điểm, địa phương, loại hồ sơ và tình huống cụ thể. Trường hợp cần xác định chính xác căn cứ pháp lý đang áp dụng cho hồ sơ của mình, Quý khách nên liên hệ luật sư của ANT Legal qua số 0966.475.966 để được kiểm tra và tư vấn trước khi thực hiện.
Rủi ro thường gặp cần lưu ý
- Áp dụng nhầm văn bản pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (ví dụ vẫn viện dẫn Luật Các tổ chức tín dụng 2010 trong khi Luật 2024 đã có hiệu lực từ 01/7/2024).
- Cho vay thường xuyên, mang tính kinh doanh mà không nhận thức được rủi ro bị coi là hoạt động ngân hàng trái phép.
- Thỏa thuận lãi suất vượt trần 20%/năm dẫn đến phần vượt trần không có hiệu lực.
- Thanh toán khoản vay bằng tiền mặt giữa các doanh nghiệp, trái quy định về thanh toán không dùng tiền mặt.
ANT Legal có thể hỗ trợ gì?
ANT Legal hỗ trợ rà soát tình huống cụ thể, kiểm tra hồ sơ, xác định căn cứ pháp lý áp dụng, tư vấn phương án xử lý và đại diện làm việc với cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan có thẩm quyền khi cần thiết.
Để được tư vấn nhanh, Quý khách có thể liên hệ luật sư qua số 0966.475.966.
Bài viết liên quan
- Quy định về hình thức thanh toán trong giao dịch vay, cho vay và trả nợ vay lẫn nhau giữa các doanh nghiệp không phải là tổ chức tín dụng
- Theo quy định pháp luật, có thể vay vốn công ty mẹ nước ngoài lãi suất 0% không?
- Công ty mượn tiền Giám đốc thì có phải là giao dịch liên kết không?
- Quy định về Chủ tịch Hội đồng thành viên trong công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam
- Hướng dẫn tra cứu vốn điều lệ công ty theo quy định pháp luật
