Khi Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự 7 hàng tại khoản 1 Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025: (1) chi phí phá sản; (2) nợ lương, trợ cấp thôi việc, BHXH, BHYT của người lao động và quyền lợi khác theo hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể; (3) bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (4) khoản nợ của cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng thực hiện công việc, hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp, hợp tác xã nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh; (5) nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; (6) khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; (7) khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ. Như vậy, tiền lương của người lao động được ưu tiên thanh toán ở hàng thứ hai, ngay sau chi phí phá sản.
1. Ai có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản?
Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định về người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản như sau:
Dịch vụ liên quan
Tư vấn hợp đồng thương mại
Nếu anh/chị đang chuẩn bị ký, rà soát hoặc phát sinh tranh chấp từ hợp đồng, ANT Legal có thể hỗ trợ kiểm tra điều khoản, rủi ro pháp lý và đề xuất phương án xử lý phù hợp trước khi thương lượng hoặc khởi kiện.
Điều 38. Người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản
1. Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
2. Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
3. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên, thành viên hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
4. Cơ quan thuế có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã đôn đốc khoản chậm đóng, trốn đóng nhưng không nhận được phản hồi trong 3 năm liên tiếp.
5. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã; chủ doanh nghiệp tư nhân; chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần; Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; thành viên hợp danh của công ty hợp danh; người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
6. Khi nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản, người nộp đơn phải nộp kèm danh sách chủ nợ, người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã (nếu có), tài liệu, chứng cứ để chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
7. Trường hợp người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản quy định tại khoản 5 Điều này không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn mà gây thiệt hại cho doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ nợ thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2. Tài sản của doanh nghiệp phá sản được phân chia theo thứ tự nào?
Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định thứ tự phân chia tài sản như sau:
Điều 46. Thứ tự phân chia tài sản
1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:
a) Chi phí phá sản;
b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;
c) Khoản nợ bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
d) Khoản nợ của cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng thực hiện công việc, hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp, hợp tác xã nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
đ) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước;
e) Khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ;
g) Khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
2. Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
a) Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
b) Chủ doanh nghiệp tư nhân;
c) Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
d) Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty cổ phần;
đ) Thành viên của công ty hợp danh.
3. Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng với số nợ của mình.
Như vậy, tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động thuộc hàng ưu tiên thanh toán thứ hai, ngay sau chi phí phá sản. Nếu tài sản không đủ để thanh toán hết trong cùng một hàng ưu tiên thì các đối tượng trong hàng đó được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng với số nợ.
3. Doanh nghiệp phá sản thì Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết?
Thẩm quyền giải quyết phá sản thuộc về Tòa án nhân dân theo phân cấp được quy định tại Luật Phục hồi, phá sản 2025 (số 142/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026; theo Điều 88, luật này thay thế Luật Phá sản 2014 kể từ ngày 01/3/2026; các vụ việc Tòa án đã thụ lý trước ngày luật có hiệu lực tiếp tục áp dụng Luật Phá sản 2014).
Lưu ý quan trọng: Từ ngày 01/7/2025, cả nước thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp (34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; không còn đơn vị hành chính cấp huyện) và hệ thống Tòa án nhân dân đã được tổ chức lại theo mô hình mới. Do đó, các quy định về thẩm quyền “Tòa án nhân dân cấp huyện” trong Luật Phá sản 2014 không còn phù hợp. Người nộp đơn cần xác định đúng Tòa án có thẩm quyền theo nơi doanh nghiệp đặt trụ sở tại thời điểm nộp đơn và nên tham khảo ý kiến luật sư hoặc liên hệ trực tiếp Tòa án để được hướng dẫn.
Lưu ý khi áp dụng quy định pháp luật hiện hành
Nội dung bài viết thuộc nhóm Kiến thức Doanh nghiệp MA và được trình bày theo hướng tham khảo, giúp người đọc hiểu vấn đề pháp lý ở mức tổng quan trước khi chuẩn bị hồ sơ hoặc thực hiện giao dịch. Quy định pháp luật có thể thay đổi theo thời điểm, địa phương, loại hồ sơ và tình huống cụ thể. Trường hợp cần xác định chính xác căn cứ pháp lý đang áp dụng cho hồ sơ của mình, Quý khách nên liên hệ luật sư của ANT Legal qua số 0966.475.966 để được kiểm tra và tư vấn trước khi thực hiện.
Rủi ro thường gặp cần lưu ý
- Áp dụng nhầm văn bản pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (Luật Phá sản 2014 đã hết hiệu lực từ 01/3/2026).
- Áp dụng quy định về thẩm quyền Tòa án cấp huyện của luật cũ trong khi hệ thống tòa án đã được tổ chức lại.
- Hiểu chưa đúng thứ tự ưu tiên thanh toán, bỏ sót quyền ưu tiên của người lao động.
- Nộp đơn không đúng Tòa án có thẩm quyền dẫn đến bị trả lại đơn, mất thời gian.
ANT Legal có thể hỗ trợ gì?
ANT Legal hỗ trợ rà soát tình huống cụ thể, kiểm tra hồ sơ, xác định căn cứ pháp lý áp dụng, tư vấn phương án xử lý và đại diện làm việc với cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan có thẩm quyền khi cần thiết. Để được tư vấn nhanh, Quý khách có thể liên hệ luật sư qua số 0966.475.966.
Bài viết do hệ thống AI Legal Council của ANT Legal rà soát theo quy trình nội bộ 7 bước (nghiên cứu – dự thảo – phản biện – hiệu đính – kiểm tra – xuất bản – kiểm chứng). Đây không phải xác nhận rằng luật sư con người đã duyệt hồ sơ cụ thể của bạn.
Bài viết liên quan
- Công ty nợ tiền bảo hiểm xã hội nếu phá sản thì quyền lợi của người lao động có được đảm bảo không?
- 7 việc phải làm ngay sau khi thành lập doanh nghiệp, công ty tại Việt Nam
- Thành lập công ty nhưng không kinh doanh có bị xử phạt hay không? tại Việt Nam
