Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ có phải thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm hay không?

5/5 - (1 lượt đánh giá)

Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo khoản 2 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018. Thỏa thuận này bị cấm khi các bên cùng thị trường liên quan thực hiện, hoặc khi gây tác động/khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (Điều 12). Trường hợp có lợi cho người tiêu dùng, thỏa thuận có thể được miễn trừ có thời hạn theo Điều 14.

1. Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ có bị cấm không?

Điều 12 Luật Cạnh tranh 2018 quy định các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm:

“Điều 12. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm

1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 11 của Luật này.

…

3. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan quy định tại các khoản 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 11 của Luật này khi thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.”

Như vậy:

– Nếu các bên cùng thị trường liên quan (thỏa thuận ngang — giữa các đối thủ cạnh tranh) thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ theo khoản 2 Điều 11 thì bị cấm tuyệt đối theo khoản 1 Điều 12.

– Nếu các bên ở các công đoạn khác nhau trong cùng chuỗi sản xuất, phân phối (thỏa thuận dọc) thì chỉ bị cấm khi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.

2. Có lợi cho người tiêu dùng thì được miễn trừ không?

Có. Theo Điều 14 Luật Cạnh tranh 2018, thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ (khoản 2 Điều 11) bị cấm theo Điều 12 được miễn trừ có thời hạn nếu có lợi cho người tiêu dùng và đáp ứng một trong các điều kiện: thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ; tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế; hoặc thúc đẩy áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm.

3. Hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ gồm những gì?

Doanh nghiệp có thỏa thuận thuộc diện bị cấm muốn được miễn trừ phải nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Hồ sơ cần thể hiện rõ: nội dung thỏa thuận, các bên tham gia, phân tích lợi ích mang lại cho người tiêu dùng và việc đáp ứng điều kiện miễn trừ tại Điều 14, kèm tài liệu chứng minh. Việc miễn trừ chỉ phát sinh hiệu lực khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận bằng quyết định — doanh nghiệp không được tự áp dụng.